Số phận và phẩm chất người nông dân trong Vợ nhặt và Chí Phèo

Số phận và phẩm chất của người nông dân thông qua hai tác phẩm: Vợ Nhặt (Kim Lân) và Chí Phèo (Nam Cao)

Mở bài: Giới thiệu khái quát hai tác giả, tác phẩm và nêu điểm gặp gỡ giữa họ, ví dụ:

Đề tài về người nông dân không phải quá xa lạ trong văn học Việt Nam. Nhắc đến họ,trước hết ta nghĩ đến những con người chân lắm tay bùn, vất vả mà quanh năm vẫn đói nghèo, hiền lành mà suốt đời chịu cảnh gian truân. Mãi đến khi những Tràng, những Thị đói rách, sống lay lắt bên bờ vực của cái chết hiện ra trong trang văn của Kim Lân hay một Chí Phèo ngật ngưỡng bước vào đời bằng tiếng chửi, ta mới thấm thía hơn nỗi đau về số phận con người.

Thân bài:

  • Số phận và phẩm chất của người nông dân trong Vợ Nhặt:
  • Người nông dân trong Vợ Nhặt được thể hiện qua ba nhân vật: Tràng, bà cụ Tứ, người vợ nhặt:

+ Tràng: anh thanh niên xấu xí, nghèo lại là dân ngụ cư, vậy mà chỉ bằng đôi ba câu bông đùa và bốn bát bánh đúc đã nhặt được vợ. Trong cái cảnh đói khổ Tràng lại làm một việc “đèo bồng”.

  • Hành động nhặt vợ của anh lại là hành nhân văn thể hiện tấm lòng thương người, muốn cưu mang giúp đỡ người khác trong khó khăn mà không nghĩ đến cái khổ của mình. Tiếng “chậc, kệ”là thái độ thách thức, đối mặt với khó khăn, tuy có phần liều lĩnh nhưng chính người vợ nhặt này đã đem lại cho cả gia đình anh luồn sinh khí mới. Tràng không còn sự hời hợt, vô tâm của một thằng con trai nữa mà thay vào đó là những tính cách tốt đẹp của người đàn ông “hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng…hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này..”

+ Bà cụ Tứ: Điển hình cho người mẹ nghèo nông thôn phải chịu nhiều cay đắng, tủi nhục của cuộc đời dài dằng dặc. Bà thương con mình và thương cả đứa con dâu bất ngờ kia. Lòng người mẹ nghèo quặn thắt những buồn vui, lo lắng, tủi nhục, xót xa cho cảnh con trai mình có vợ. Hình tượng người mẹ nghèo này làm ấm lại trang văn của tác giả, khiến cho người đọc rơi nước mắt và cũng khiến cho họ cảm thấy cuộc đời còn niềm vui, niềm hi vọng dù ở bất cứ tình huống nào.

  • Bà cụ Tứ ngời lên phầm chất của một người mẹ nông dân: hiền lành, thương yêu con hết lòng, sống vị tha, nhân hậu
  • Con người hiểu lẽ đời, luôn có niềm tin ở tương lai

+ Cô vợ nhặt: nhân vật xây dựng nên tình huống truyện độc đáo nhưng lại không có tên. Nhà văn cố tình xây dựng hình tượng Thị nhằm nói lên cái nghèo, cái đói khiến người ta đến bước đường cùng. Thị nghèo đến nỗi không có cái tên, nghèo như số phận chung của bao người phụ nữ khác. Thị tầm gửi bản thân vào Tràng để được sống, được hạnh phúc. Thị bộc lộ những phẩm chất đáng quý:

  • Người phụ nữ có lòng ham sống, khát vọng sống mãnh liệt

+ Chỉ vài ba câu bông đùa, bữa ăn ở chợ, Thị đã về làm vợ Tràng. Điều ấy cho thấy Thị không muốn buông xuôi số mình cho cuộc đời, Thị cố gắng bám lấy, tầm gửi đời mình vào một người khác

+Nhờ lòng ham sống mà Thị tìm thấy bến đậu của mình, tuy đó không phải nơi lý tưởng nhưng cũng chan chứa tình người. Thị làm nên sự thay đổi kì diệu cho cuộc sống của xóm ngụ cư, thổi vào đấy một luồng sinh khí khiến những người nơi đây như vui tươi, phấn chấn hẳn lên.

  • Người phụ nữ hiền thục, vợ hiền dâu thảo, biết lo toan, vun vén cho gia đình:

+ Từ ngày theo Tràng về, Thị mất đi sự đanh đá, chỏng lỏn như trước kia. Thị đã thẹn thùng, ý tứ, lễ phép: “Thị ngượng ngịu, chân nọ bước díu cả chân kia”, “ngồi mớm xuống mép giường”, “Thị cất tiếng chào lần nữa: U đã về ạ”

+ Sáng hôm sau về nhà chồng, Thị trở thành người vợ đảm đang cùng mẹ chồng thu dọn nhà cửa, nấu cơm cho cả gia đình: “vợ hắn quét lại cái sân”, “người đàn bà lẳng lặng đi vào trong bếp”.

  • Người phụ nữ hiểu chuyện, biết điều

+ Thị hiểu, cảm thông và chấp nhận hoàn cảnh gia đình của Tràng thông qua các chi tiết: “Thị nén tiếng thở dài” khi nhìn thấy cảnh nhà rách rưới của Tràng; trong bữa ăn khi đón lấy bát cháo từ tay mẹ chồng “Thị điềm nhiên và vào miệng”.

+ Thị là người mang đến những tin tức mới như chuyện người đói phá kho thóc Nhật, họ không đóng thuế nữa…

  • Số phận và phẩm chất của của người nông dân trong Chí Phèo
  • Chí Phèo là nhân vật trung tâm cũng là đại diện tiêu biểu cho số phận cùng cực của người nông dân trước CM. Cuộc đời Chí trải qua những bi kịch nối tiếp nhau:

+ Bi kịch mồ côi: Chí chẳng biết cha mẹ mình là ai, nơi người ta nhặt được hắn là cái lò gạch cũ bỏ hoang. Hắn được truyền từ tay người này sang người khác nuôi nấng và cuối cùng đi ở đợ cho nhà Bá Kiến.

+ Bi kịch bị tha hóa nhân hình lẫn nhân tính: Vì ghen tuông vô cớ, Bá Kiến đẩy Chí vào ngục suốt 7, 8 năm. Ra tù, hắn thay đổi hẳn “cái đầu thì trọc lóc, cái mặt thì đen mà lại rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết… cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng cầm chuỳ, cả hai cánh tay cũng thế”. Hắn làm tay sai cho Bá Kiến, hắn rạch mặt ăn vạ, đâm thuê, chém mướn. Chí Phèo trở thành con quỹ dữ của làng Vũ Đại đã đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, cướp đi bao nhiêu chén cơm ….của người khác.

+ Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người: Sinh ra là một con người nhưng Phèo không được đối xử là con người. Từ khi hắn trở thành quỹ dữ, hắn giao tiếp với đời chỉ bằng tiếng chửi. Cho đến khi Thị Nở đến với Chí, mang cho Chí bát cháo hành và thức tỉnh tâm hồn của Chí. Lúc này Chí Phèo đã khao khát được hoàn lương nhưng lại một lần nữa chính bàn tay Thị Nở đẩy hắn xuống vực thẳm của con quỹ. Cuối cùng để được làm người, hắn đã giết Bá Kiến và tử tự.

  • Chí Phèo là hình ảnh của người nông dân luôn kháo khát sống bằng chính sức lao động của mình “chồng cày thuê, vợ dệt vải..”ấp ủ những ước mơ về hạnh phúc thật đơn giản. Chí còn là hình ảnh đáng thương, đáng trân trọng của người dân nghèo chịu nhiều thiệt thòi, thấp cổ bé họng, luôn bị kẻ thống trị áp bức, bóc lột sức lao động và quyết định số phận của họ.
  • Bên trong lớp con quỹ dữ là bản chất của một người lương thiện. Dù ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng mong muốn được sống lương thiện.

* Điểm tương đồng và khác biệt:

– Tương đồng: Hai nhà văn đều tập trung khám phá vè đẹp tâm hồn của người nông dân thông qua việc đặt họ trong số phận, nghịch cảnh để làm nền ngời lên cái đẹp của phẩm chất. Ngoài ra hai tác phẩm còn là tiếng nói tố cáo tội ác của bọn cầm quyền, thống trị đã đẩy nhân dân vào cảnh đói khổ, túng cùng.

– Khác nhau:

+ Ở tác phẩm “Chí Phèo”, điểm đặc sắc riêng của Nam Cao là đã lớn tiếng tố cáo tội ác của xã hội thực dân phong kiến đã đấy người nông dân lương thiện vào tình trạng tha hoá, lưu manh hoá, huỷ hoại cả nhân tính và nhân hình của con người. Từ đó, tác phẩm đã vút lên tiếng kêu khẩn thiết đòi quyền sống, quyền làm người lương thiện cho những con người cùng khổ trong xã hội cũ.

+ Còn trong “Vợ nhặt”, Kim Lân đã bày tỏ sự cảm thông sâu sắc đối với tình trạng đói khổ cùng cực của người nông dân lao động. Nhà văn khẳng định bản chất tốt đẹp của họ. Trong cảnh cùng đường đói khát, họ vẫn cưu mang đùm bọc lẫn nhau. Ánh sáng của tình người là thứ ánh sáng đẹp nhất, rạng rỡ nhất trong những ánh sáng le lói trong bầu không khí ảm đạm của tác phẩm.

Kết bài: Tác phẩm nghệ thuật chân chính là một tác phẩm “vượt qua sự băng hoại của thời gian, chỉ mình nó không thừa nhận cái chết”. Chí Phèo và Vợ Nhặt xứng đáng là một trong những tác phẩm xuất sắc của văn học Việt Nam.

Chia sẻ